1. Khái niệm ly hôn có yếu tố nước ngoài

Theo pháp luật Việt Nam, tại khoản 14 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 (Luật HN&GĐ 2014) quy định:
14. Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án.
Theo quy định tại Điều 127 Luật HN&GĐ 2014 và Điều 464 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2025 (BLTTDS 2015), có thể hiểu: ly hôn có yếu tố nước ngoài là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng giữa các bên chủ thể trong đó, ít nhất một bên thực hiện quyền ly hôn là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài; việc ly hôn giữa các bên là công dân Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập hay chấm dứt việc ly hôn xảy ra tại nước ngoài, theo pháp luật nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến vụ, việc ly hôn nằm ở nước ngoài.
2. Ly hôn có yếu tố nước ngoài được quy định tại Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình 2014:
1. Việc ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa người nước ngoài với nhau thường trú ở Việt Nam được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam theo quy định của Luật này.
2. Trong trường hợp bên là công dân Việt Nam không thường trú ở Việt Nam vào thời điểm yêu cầu ly hôn thì việc ly hôn được giải quyết theo pháp luật của nước nơi thường trú chung của vợ chồng; nếu họ không có nơi thường trú chung thì giải quyết theo pháp luật Việt Nam.
3. Việc giải quyết tài sản là bất động sản ở nước ngoài khi ly hôn tuân theo pháp luật của nước nơi có bất động sản đó.
Theo quy định trên, ly hôn có yếu nước ngoài được xác lập qua một trong các dấu hiệu sau:
Thứ nhất, về chủ thể ly hôn: có ít nhất một bên là người nước ngoài hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Thứ hai, căn cứ ly hôn xảy ra tại nước ngoài, theo pháp luật nước ngoài. Khi xem xét dấu hiệu này, cần xác định căn cứ phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ hôn nhân có xảy ra tại nước ngoài, theo pháp luật nước ngoài hay không. Nếu có các căn cứ xác định hôn nhân phát sinh (kết hôn) ở nước ngoài, theo pháp luật nước ngoài, hoặc thay đổi (theo bản án, quyết định cho ly hôn, cho ly thân của Toà án hoặc của cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài) thì việc lựa chọn áp dụng pháp luật nước ngoài hay pháp luật Việt Nam được đặt ra để giải quyết vụ việc ly hôn có yếu tố nước ngoài.
Thứ ba, tài sản liên quan đến vụ việc ly hôn ở nước ngoài. Trong trường hợp này, nếu hai bên chủ thể đều là công dân Việt Nam, việc ly hôn được thực hiện tại Việt Nam nhưng tài sản tranh chấp ly hôn không nằm trên lãnh thổ Việt Nam mà nằm ở nước ngoài. Lúc này, pháp luật được áp dụng để giải quyết tài sản là bất động sản sẽ tuân thủ theo pháp luật của nước ngoài, nơi có bất động sản đó.
3. Việc xác định thẩm quyền của Tòa án Việt Nam:

3.1. Thẩm quyền chung và thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam
Thẩm quyền chung và thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam được quy định tại điểm d khoản 1, khoản 2 Điều 469 và điểm b khoản 1 Điều 470 BLTTDS 2015, cụ thể về thẩm quyền chung như sau:
“Điều 469. Thẩm quyền chung của Tòa án Việt Nam trong giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài
1. Tòa án Việt Nam có thẩm quyền giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài trong những trường hợp sau đây:
d) Vụ việc ly hôn mà nguyên đơn hoặc bị đơn là công dân Việt Nam hoặc các đương sự là người nước ngoài cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài tại Việt Nam;
đ) Vụ việc về quan hệ dân sự mà việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó xảy ra ở Việt Nam, đối tượng của quan hệ đó là tài sản trên lãnh thổ Việt Nam hoặc công việc được thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam;
e) Vụ việc về quan hệ dân sự mà việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó xảy ra ở ngoài lãnh thổ Việt Nam nhưng có liên quan đến quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam hoặc có trụ sở, nơi cư trú tại Việt Nam
2. Sau khi xác định thẩm quyền của Tòa án Việt Nam theo quy định của Chương này, Tòa án áp dụng các quy định tại Chương III của Bộ luật này để xác định thẩm quyền của Tòa án cụ thể giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài.”
Như vậy, thẩm quyền chung của Tòa án Việt Nam trong các vụ việc ly hôn được xác định dựa vào quốc tịch của chủ thể hoặc nơi thường trú, làm việc của đương sự tại Việt Nam.
Trong trường hợp này, nếu đã lựa chọn Trọng tài hoặc Tòa án nước ngoài giải quyết vụ việc thì thẩm quyền giải quyết sẽ không còn thuộc về Tòa án Việt Nam.
Quy định thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam
“Điều 470. Thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam
1. Những vụ án dân sự có yếu tố nước ngoài sau đây thuộc thẩm quyền giải quyết riêng biệt của Tòa án Việt Nam:
a) Vụ án dân sự đó có liên quan đến quyền đối với tài sản là bất động sản có trên lãnh thổ Việt Nam;
b) Vụ án ly hôn giữa công dân Việt Nam với công dân nước ngoài hoặc người không quốc tịch, nếu cả hai vợ chồng cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài ở Việt Nam;
c) Vụ án dân sự khác mà các bên được lựa chọn Tòa án Việt Nam để giải quyết theo pháp luật Việt Nam hoặc điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên và các bên đồng ý lựa chọn Tòa án Việt Nam.
2. Những việc dân sự có yếu tố nước ngoài sau đây thuộc thẩm quyền giải quyết riêng biệt của Tòa án Việt Nam:
a) Các yêu cầu không có tranh chấp phát sinh từ quan hệ pháp luật dân sự quy định tại khoản 1 Điều này;
Qua những điều khoản này có thể thấy, trong khi thẩm quyền chung của Tòa án Việt Nam về các vụ việc ly hôn có tính khái quát và rộng hơn, thì thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam quy định một số trường hợp cụ thể mà chỉ Tòa án Việt Nam có thẩm quyền giải quyết.
3.1. Xác định thẩm quyền theo cấp của Tòa án Việt Nam về ly hôn có yếu tố nước ngoài:
- Tòa án nhân dân khu vực
Căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 123 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 được sửa đổi bởi Khoản 13 Điều 2 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân sửa đổi 2025:
Điều 2. Sửa đổi, bổ sung một số điều của luật có liên quan
…
13. Thay thế cụm từ “Tòa án nhân dân cấp huyện” bằng cụm từ “Tòa án nhân dân khu vực” tại khoản 3 Điều 123 của Luật Hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13.
Theo đó, “Tòa án nhân dân khu vực” sẽ được sử dụng thay cho cụm “Tòa án cấp huyện” trước đây trong thẩm quyền giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài.
Tại Điều 123, Luật HN&GĐ 2014 quy định thẩm quyền giải quyết các vụ việc hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài như sau:
3. Tòa án nhân dân khu vực nơi cư trú của công dân Việt Nam hủy việc kết hôn trái pháp luật, giải quyết việc ly hôn, các tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, cha mẹ và con, về nhận cha, mẹ, con, nuôi con nuôi và giám hộ giữa công dân Việt Nam cư trú ở khu vực biên giới với công dân của nước láng giềng cùng cư trú ở khu vực biên giới với Việt Nam theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật Việt Nam.
Như vậy, theo quy định pháp luật hiện hành, Tòa án nhân dân khu vực (trực thuộc TAND cấp tỉnh) nơi các đương sự thường trú sẽ có thẩm quyền giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài. TAND khu vực cũng là cơ quan duy nhất có thẩm quyền sơ thẩm tất cả các vụ việc ly hôn, bao gồm cả các vụ ly hôn có yếu tố nước ngoài.
- Thẩm quyền Tòa án nhân dân cấp tỉnh
Tại Điều 37 BLTTDS 2015 quy định:
“Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục phúc thẩm những vụ việc mà bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân khu vực bị kháng cáo, kháng nghị; giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân khu vực nhưng bị kháng nghị theo quy định của Bộ luật này.
…”
Theo đó, TAND cấp tỉnh chỉ có thẩm quyền phúc thẩm các vụ ly hôn, ở đây bao gồm cả các vụ ly hôn có yếu tố nước ngoài.
- Thẩm quyền Tòa án theo lãnh thổ thuộc TAND khu vực
Theo BLTTDS 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2025 tại Điều 39 về thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ quy định:
“1. Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau:
a) Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;
b) Các đương sự có quyền tự thoả thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;
c) Đối tượng tranh chấp là bất động sản thì chỉ Tòa án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết.
2. Thẩm quyền giải quyết việc dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau:
…
h) Tòa án nơi một trong các bên thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn cư trú, làm việc có thẩm quyền giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn;”
Theo đó, phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của Tòa án nhân dân khu vực được xác định dựa trên thỏa thuận của các bên thuận tình ly hôn, hoặc dựa trên nơi cư trú, làm việc của bị đơn.
Khi phát sinh vụ việc ly hôn có yếu tố nước ngoài, việc xác định pháp luật áp dụng cũng như thẩm quyền giải quyết của Tòa án là yêu cầu mang tính tiên quyết. Vấn đề này không chỉ được điều chỉnh bởi pháp luật Việt Nam mà còn có thể chịu sự chi phối của pháp luật nước ngoài và các điều ước quốc tế, bao gồm các hiệp định tương trợ tư pháp mà Việt Nam là thành viên hoặc đã ký kết với quốc gia có liên quan. Tùy thuộc vào hệ thống pháp luật được xác định áp dụng, các quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản giữa các bên sẽ được điều chỉnh theo những nguyên tắc và quy định khác nhau.
Như vậy, kể từ ngày 1/7/2025 trở đi, mô hình tổ chức Tòa án của Việt Nam đã có sự thay đổi, không còn Tòa án nhân dân huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc trung ương mà thay vào đó là Tòa án nhân dân khu vực. TAND khu vực sẽ có thẩm quyền thụ lý, giải quyết các vụ việc dân sự. Trong đó bao gồm cả những vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài cũng như các vụ việc liên quan đến ly hôn có yếu tố nước ngoài ở cấp sơ thẩm. Như vậy, TAND cấp tỉnh sẽ không còn thẩm quyền về giải quyết theo thủ tục sơ thẩm các tranh chấp, yêu cầu giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài nữa, mà thẩm quyền này sẽ được giao cho TAND khu vực và TAND cấp tỉnh sẽ giải quyết các vụ việc theo thủ tục phúc thẩm.
